Tôi sẽ giải thích một số chi tiết có thể gây khó hiểu cho các bạn (thực ra là tham khảo được từ Wannabe Fansubs), các bạn có thể nhấn vào liên kết đến Wikipedia để xem thêm hình ảnh và giải thích chi tiết. Lưu ý: Các ghi chú này có chứa spoiler, do đó các bạn chỉ nên xem sau khi đã xem xong tập phim.
(Thật ra tôi không rành văn hóa Nhật Bản cho lắm, những điều dưới đây chỉ dịch cẩu thả từ các nguồn trên mạng nên có thể không đúng, ai biết sai xin nhắc dùm!)
Cập nhật lần cuối: 2011-11-11. Lý do: sửa chữa và bổ sung, đã cập nhật note 22 tập đầu, sẽ hoàn thiện dần
» Tập 01 «
- Thời đại Bunka-Bunsei gồm 2 niên đại Bunka (文化 Văn hóa, 1804-1818) và Bunsei (文政 Văn chính, 1818-1830).
- Hình tượng và cảnh xuất hiện của Tenouji giống với Sachiel (Angel xuất hiện trong tập 1 Neon Genesis Evangelion cũng như trong movie Evangelion I)
- Trò Shiritori (尻取り hay しりとり): là một trò chơi từ vựng phổ biến ở Nhật.
Trước hết xin nói sơ về hệ thống ngữ âm của người Nhật. Trong khi hầu hết các "vần" đều được phát âm tự nhiên, riêng vần "N" (ん) lại là âm câm. Lưu ý: vần "N" (ん) khác với các vần NA, NE, NI, NO, NU.
Bây giờ nói về quy tắc của Shiritori: bạn bắt đầu bằng việc chọn một chủ đề và đọc một từ thuộc chủ đề đó (và phải là danh từ). Người tiếp theo sẽ đọc một từ mới sao cho vần đầu của từ này là vần cuối của người trước vừa nói, đồng thời vần kết thúc của nó phải khác vần "ん", nếu không coi như thua (đơn giản vì không có từ nào bắt đầu với vần "ん" ). Lưu ý trong trường hợp vần cuối kết thúc bằng âm đôi như KĀ, SŌ... thì được phép tính như KA, SO...
Lấy trường hợp của Tenma trong tập này làm ví dụ:
- Kamekichi -> Chikin (Chicken) -> Tenma đập đầu xuống bàn
- Kamekichi -> Chiitaa (Cheetah) -> Taazan (Tarzan) -> Tenma lại đập đầu xuống bàn
- Kamekichi -> Chiizu Keiki (Cheese Cake) -> Kingu Kongu (King Kong) -> Guru guru Karei (Guru Guru Curry) -> Reimen (Mì lạnh) -> Tenma đập đầu xuống bàn lần nữa
- Kamekichi -> Chia Gaaru (Cheer Girl) -> Ruuretto (Roulette) -> Tonkatsu (Cốt-lết lợn) -> Tsumayouji (Tăm xỉa răng) -> Jinmashin (Bệnh sởi, ban) -> Ten tiếp tục đập đầu xuống bàn
- Kamekichi -> Chie no Wa (Vòng trí tuệ) -> Wasabi (Sơn quỳ) -> Bingo -> Goma (Hạt vừng) -> Manguusu (Mongoose) -> Suiito Pii (Sweet pea) -> Piiman (Ớt chuông) -> Tenma luyện thành môn "Thiết đầu công"
- Latin hóa tên tiếng Nhật: trong tập này đoạn "Data nữ sinh", các bạn có thể để ý thấy tên một số nhân vật không giống cách ghi trong sub, chẳng hạn Tukamoto Tenma thay vì Tsukamoto Tenma. Bởi vì có nhiều "chuẩn" trong cách thức chuyển tiếng Nhật sang romaji. Nếu dùng cách nhập liệu IME để nhập tiếng Nhật, "tsu" có thể được gõ bằng "tu" vì đều tạo thành chữ "つ". Người Nhật có xu hướng thích dùng cách phát âm "tu" hơn.
Bạn có thể tham khảo bảng chuyển đổi cơ bản chữ Nhật sang Romaji sau đây:

- Ero-Sommelier: Ero là viết tắt của erotic, ở Nhật những sản phẩm giải trí liên quan đến tình dục thường dùng tiền tố Ero, ví dụ Eroge (từ cách phát âm của Erotic game: erochikku gēmu). Sommelier: người phục vụ rượu (vang) trong các nhà hàng sang trọng, họ làm nhiệm vụ trông nom kho rượu và gợi ý khách hàng chọn loại rượu phù hợp.
» Tập 02 «
- Kissaten (喫茶店): là hình thức quán/tiệm nước nhỏ của Nhật, thường phục vụ trà và bánh ngọt, ngoài ra còn có các loại thức uống và đồ ăn nhẹ khác, phổ biến như cà phê, sandwich, mỳ spaghetti, cơm cà-ri... Ở đô thị, kissaten còn có "morning service" (mooningu saabisu) phục vụ bữa sáng cho người đi làm và học sinh/sinh viên. Trong bản dịch v2, tôi dịch thành tiệm cà phê với ý nghỉa tương tự (ở bản dịch V2.2 được dịch thành tiệm nước).
- Cách ghi số phiếu bầu của người Nhật không giống như của ta. Xem hình minh họa dưới đây:
Chữ đầy đủ (tương ứng với số 5) là Tadashi (Kanji: 正, Hiragana: ただし), nghĩa là "Đúng" hoặc "Chính xác". (Lưu ý
khác với chữ Tadashi (忠, Hán Việt: Trung) thường gặp trong tên người Nhật, có nghĩa là "Trung thành").
- Đoạn quân ca đó theo Wannabe Fansubs, đó là parody của đoạn quảng cáo trò chơi Famicom Wars (phát hành năm 1988 cho hệ máy Famicom [còn tên khác là NES, máy chơi điện tử nổi tiếng một thời], năm 2009 nó được phát hành lại cho Wii qua Virtual Console) (bạn có thể xem đoạn quảng cáo ở đây). Nebula M78 (hệ tinh vân M78) là nơi có hành tinh quê nhà của Ultraman.
- Survival Game là parody từ bộ phim gây tranh cãi, được công chiếu năm 2000 của Nhật, Battle Royale, dựa trên tiểu thuyết cùng tên (phần sau của phim được công chiếu năm 2003). Trong phim, một lớp học sinh được chọn tham gia vào một "trò chơi" có tên Battle Royale của chính phủ, diễn ra thường niên. Những học sinh này được đưa đến một đảo xa và bị buộc bắn giết lẫn nhau để có thể sinh tồn. Vì lẽ đó, bộ phim có nhiều cảnh bạo lực và máu me. Mặc dù gây tranh cãi, nhưng bộ phim lại khá thành công về doanh thu (3.11 tỷ yên tính riêng trong nước) cũng như giải thưởng điện ảnh. Hiện tại, phim được chấm tới 7.9 điểm với hơn 51 600 votes trên IMDB, và tạp chí Empire xếp vào trong 2 danh sách: "500 bộ phim xuất sắc nhất mọi thời đại" và "100 bộ phim hay nhất của điện ảnh thế giới". Ngày 20-11-2010, Toei đã công chiếu lại bộ phim theo định dạng 3D ở Nhật, dự định sẽ chiếu ở Mỹ vào cuối năm 2011. Phiên bản DVD và Blu-ray của bộ phim được phát hành giới hạn ở Anh quốc vào ngày 13-12-2010.
- Nếu bạn vẫn chưa phát hiện, phần này seiyū của Karen đã thay bằng MAKO, chị này chính là seiyuu của Yurie trong Kamichu!, của Natsu (lúc nhỏ) trong Fairy Tail (tôi không xem cả hai bộ này nên... đừng hỏi!). Cute voice, huh?
Tuy nhiên, hai bài Insert song trong tập này (GIRLS CAN ROCK và Feel like a girl) do ca sỹ Lia trình bày. Cô rất quen thuộc với những ai là fan của Key, vì cô chính là ca sỹ trình bày theme-song và insert song cho Air (OP/ED: Tori no Uta / Farewell Song, insert: Aozora), Clannad (insert: Ana), Clannad After Story (OP/ED: Toki o Kizamu Uta / Torch, insert: Ana), Clannad: Another World (OP/ED), Angel Beats (OP: My Soul, Your Beats!), ngoài ra còn có Fortune Arterial series (OP: Kizunairo), Gunslinger Girl: Il Teatrino (2 ED: Doll / Human), Initial D Fourth Stage (2 insert: All Around / Sky High) và School Rumble (insert: Crossing Over).
Tuy nhiên, hai bài Insert song trong tập này (GIRLS CAN ROCK và Feel like a girl) do ca sỹ Lia trình bày. Cô rất quen thuộc với những ai là fan của Key, vì cô chính là ca sỹ trình bày theme-song và insert song cho Air (OP/ED: Tori no Uta / Farewell Song, insert: Aozora), Clannad (insert: Ana), Clannad After Story (OP/ED: Toki o Kizamu Uta / Torch, insert: Ana), Clannad: Another World (OP/ED), Angel Beats (OP: My Soul, Your Beats!), ngoài ra còn có Fortune Arterial series (OP: Kizunairo), Gunslinger Girl: Il Teatrino (2 ED: Doll / Human), Initial D Fourth Stage (2 insert: All Around / Sky High) và School Rumble (insert: Crossing Over).
- Nhân tiện, trong trường hợp bạn không để ý, đạo diễn của phần này cũng không phải là đạo diễn của phần trước. Đạo điễn của phần một lẫn mấy cái OVA là Takamatsu Shinji. Đạo diễn của phần này (đã ghi trong bài giới thiệu) là Kanasaki Takaomi.
- Colt Python là tên gọi của dòng súng trái khế (tức súng lục dùng ổ đạn quay; revolver) sử dụng đạn .357 Magnum, do hãng vũ khí Colt sáng chế và sản xuất từ năm 1955, tuy nhiên đến năm 1996 dòng Python bị ngừng bán đại trà và đến năm 2005 thì ngừng sản xuất hẳn.
» Tập 03 «
- Hasta la vista: là một câu chào tạm biệt trong tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa kiểu như "Hẹn gặp lại". Tuy nhiên, câu này dễ nhắc người ta nhớ đến catch-phrase nổi tiếng trong Terminator 2: Judgment Day, "Hasta la vista, baby".
- Đoạn đấu súng giữa Hanai và Harima là parody của bộ phim khoa học giả tưởng công chiếu năm 2002, Equilibrium. Kỹ thuật đấu súng đó được gọi là "Gun Kata", một dạng của "Gun fu" vốn khá phổ biến trong các phim hành động của Hồng Kông. Trong kỹ thuật này, người ta sử dụng võ thuật kết hợp với súng trong những trận đấu cận chiến.
» Tập 04 «
- "Un, Deux, Trois...", gốc tiếng Pháp, nghĩa là "Một, Hai, Ba..." (có thể nhiều bạn đã biết, hoặc đoán được)
- Như đã ghi chú trong anime, Cây Truyền thuyết là một chi tiết parody của Tokimeki Memorial, bản đầu tiên thuộc series Tokimeki Memorial. Tokimeki Memorial là game thể loại dating sim do Konami phát hành. Trong game, theo truyền thuyết nếu cô gái nào tỏ tình với chàng trai mình thích vào ngày tốt nghiệp dưới "Cây Truyền thuyết" (mọc trong sân trường) sẽ được toại nguyện.
- Mihara gọi Imadori là "Tsuki*bíp*-sensei", chỗ này là một parody của shoujo manga/anime Glass no Kamen. Imadori mặc trang phục giống như nhân vật Tsukikage Chigusa với vai diễn đáng chú ý nhất của cô trong vở "Hồng Thiên nữ" (紅天女 Kunenai-Tennyo).
- Kake soba (掛け蕎麦) là loại soba được chế biến đơn giản nhất, thường chỉ gồm nước súp và soba, có thể có thêm ít lát hành trên mặt, vì thế cũng thuộc hạng soba rẻ mạt nhất! Soba (そば) là loại mỳ được chế biến thủ công, làm từ bột kiều mạch. Khi Eri nói "cho tôi một tô kake-soba", câu đó phỏng theo tên tiểu thuyết nổi tiếng của Kuri Ryouhei (栗良平) là “Ippai no Kake Soba” (一杯のかけそば), có nghĩa "Một tô Kake-Soba".
- Katsuobushi (かつおぶし) là cá ngừ (bonito) xông khói được bào thành những lát rất mỏng. Chúng khá rẻ và là nguyên liệu chính để chế biến dashi, vốn được dùng trong các món súp ở Nhật, như súp miso. Vì chúng rất rẻ, nên ở Nhật, nếu nói ai chỉ ăn cơm với katsuobushi có nghĩa là người đó nghèo đến nỗi không mua được thức ăn thông thường.
- Hige (ひげ): chỉ anh chàng có nhiều râu ria, gọi tắt là Anh Râu, đây là nickname mà Eri dành riêng cho Harima từ phần một (tôi không nhớ rõ từ tập mấy). Tương tự, Harima thường gọi Eri bằng nickname riêng là Ojou (お嬢), với nghĩa là Tiểu thơ (tuy nhiên mang ý "móc lò" chứ không phải tôn trọng, vì không có -san hay -sama). Ngoài ra, Harima gọi Yakumo là Imouto-san (妹さん), có nghĩa là Em Gái.
» Tập 05 «
- Goriyama-sensei: Thầy giáo bộ môn giáo dục thể chất, có tên thật là Kooriyama (郡山, nghĩa là núi băng), nhưng thường được tụi học sinh 2-C nhắc đến bằng biệt danh Goriyama (nghĩa là gorilla núi) vì dáng vẻ của mình.
- Tiểu Mama (Chii Mama): Như các bạn có thể đoán, Mama là người quản lý các nữ phục vụ (meido) trong các dịch vụ "Omizu". Trong Schoorum tập này, Akira giữ vai trò "Mama" của Kissa Rumble, nhưng có lẽ vì trẻ tuổi nên gọi là Tiểu Mama. Nói thêm, Omizu, muốn nói đến "Mizu-Shoubai (水商売)", một hình thức kinh doanh giải khát đặc biệt ở Nhật, hiện nay thường chỉ những hoạt động kinh doanh giải khát kết hợp với giải trí, như các quán bar, maid café... Hoạt động của dịch vụ này là khách hàng có thể chọn cho mình một nữ phục vụ trong khi thưởng thức đồ uống.
- Course: Hoạt động của Tiệm cà phê CLB Trà đạo phong phú hơn Kissa Rumble, nổi bật trong đó là khách hàng có thể chọn một "course" cho mình. Có thể hiểu course là một dạng cosplay hay diễn tuồng, trong đó, người tham gia sẽ được đóng một vai nào đó mình yêu cầu, và một nữ phục vụ sẽ đóng vai phụ tương ứng.
- Giải Tài Năng Mới của "Jingama": Jingama chính là chơi chữ của "Magajin (Magazine)" (đọc theo thứ tự ngược lại), ám chỉ Weekly Shonen Magazine nổi tiếng ở Nhật. Magazine là một tạp chí shounen manga, do Koudansha (bạn sẽ thấy cái tên này quen thuộc) phát hành. Koudansha cũng tài trợ chính cho một giải thưởng manga thường niên khá nổi tiếng là Koudansha Manga Award.
- Sensei (先生, hay せんせい): Hẳn các bạn đã biết, sensei thường được dùng để gọi thầy cô (giáo viên). Nó còn được dùng để gọi bác sỹ, chính trị gia và những người làm trong lĩnh vực nghệ thuật như tiểu thuyết gia, nhà thơ, họa sỹ... và cả mangaka (tác giả manga). Chính gì vậy Harima mới hiểu nhầm.
- Tokiha-sou là một parody của Tokiwa-sou. Đây là một căn hộ được mệnh danh là Đất thánh của Manga (Manga Thánh địa), vì nó từng là nơi ở của nhiều mangaka mà sau này trở thành "quái kiệt" trong làng Manga. Trong số họ có thể kể tên vài nhân vật:
- Tezuka Osamu, với hai bộ lừng danh "Astro Boy" và "Black Jack" (Để ý Harima gọi Yakumo là Tezukamoto-sensei, chính là ghép Tezuka với Tsukamoto, đúng hơn là thay Tsuka bằng Tezuka)
- Ishinomori Shoutarou, tác giả của "Kamen Rider"
- Akatsuka Fujio, "Osomatsu-kun" và "Genius Bakabon"
- Fujiko Fujio, rất quen thuộc với độc giả manga Việt Nam, với bộ "Doreamon".
» Tập 06 «
Tập này thực ra không có gì cần chú thích. Tuy nhiên, có vài thông tin thú vị dưới đây:
- Về câu đố trong vở kịch: đó là một câu đố khá phổ biến ở Nhật và các nước phương Đông. Chắc bạn đã biết rõ câu trả lời. Vấn đề chính là Tenma lại không biết câu đố đó! Một điều thú vị là không rõ câu đố này phổ biến ở phương Đông từ khi nào, nhưng nó đã xuất hiện rất sớm ở Hy Lạp, qua tác phẩm Sự Tích Hoa Tigôn của nhà hiền triết Sophocles.
- Vâng, có vẻ tên của Hoàng tử do Eri đóng là Elly chứ không phải Eri. Người Nhật phát âm L gần giống R nên khá khó phân biệt. Wannabe Fansubs dịch là Hoàng tử Elly mà theo họ là phù hợp hơn. Với lại chất liệu của vở kịch là cổ tích phương Tây nên việc Hoàng tử được đặt tên "Tây hóa" nghe có vẻ hợp lý. (Eri cũng có gốc là người Anh).
- Ở Nhật thì hoạt động sau khi bế mạc lễ hội gọi là Kouyasai (後夜祭 Hậu dạ tế), diễn ra vào buổi tối. Đây là hoạt động cuối cùng trước khi lễ hội chính thức kết thúc. Ở Phần một, sau Đại hội Thể thao của trường Yagami cũng có phần Kouyasai, đó là màn khiêu vũ bên đống lửa (folk dance). (Ai xem rồi sẽ nhớ ra màn này, nhờ đó mới phát sinh nhiều nghi ngờ quanh mối quan hệ giữa Sawachika và Harima!)
» Tập 07 «
- Đoạn "ban giám khảo" thử các món ăn là một parody, mà có thể các bạn dễ dàng nhận ra. Phong cách "chấm thi" đó được sử dụng rất nhiều trong các anime đề tài ẩm thực, điển hình như Chuuka Ichiban! (Cậu bé đầu bếp) hay Mister Ajikko. Về sau, các bộ phim ẩm thực của Hồng Kông, Đài Loan cũng thường sử dụng phong cách này.
- Cua Mozuku mà Harima bắt được là một loài cua nước ngọt, thường sống trong những con sông nhỏ ở Nhật. Tuy nhiên, kích cỡ thông thường của chúng chỉ bằng khoảng nắm tay. Cua Thượng Hải cũng là loài cua nước ngọt, sống trong những hồ gần Thượng Hải, có giá khá đắt.
- Sa-Shi-Su-Se-So: đây là nguyên tắc nêm gia vị cơ bản trong nấu ăn của người Nhật, trình bày dưới dạng nói tắt cho dễ nhớ. Nó mô tả thứ tự nêm gia vị, dựa trên cơ sở khoa học. Thứ tự đó là:
さ (SA) đại diện cho sato, nghĩa là đường,
し (SHI) đại diện cho shio, nghĩa là muối,
す (SU) đại diện cho su, nghĩa là giấm,
せ (SE) đại diện cho seuyu hoặc shoyu, nghĩa là xì dầu (nước tương),
そ (SO) đại diện cho miso.
し (SHI) đại diện cho shio, nghĩa là muối,
す (SU) đại diện cho su, nghĩa là giấm,
せ (SE) đại diện cho seuyu hoặc shoyu, nghĩa là xì dầu (nước tương),
そ (SO) đại diện cho miso.
- Cảnh Tenma thấy đàn lợn rừng băng qua có quen thuộc với bạn không? Nếu đã xem Princess Mononoke (Mononoke Hime - Công chúa Sói) hẳn bạn sẽ nhận ra.
- Studio Homet: dễ dàng đoán ra đó là parody của Studio Comet. Còn nếu bạn không biết Studio Comet là gì thì... nevermind!
- Kanji và Eri:
- Trước hết nói sơ về Kanji: Người Nhật có ba hệ thống chữ viết chính là kanji, hiragana và katakana. Katakana chủ yếu được dùng để ghi phiên âm tiếng nước ngoài dưới dạng chữ Nhật, còn hai hệ thống chữ còn lại được sử dụng rộng rãi. Kanji có nguồn gốc từ chữ Hán, trong khi Hiragana được người Nhật sáng lập riêng để thể hiện chữ viết dựa trên cách phát âm. Chính vì điều này mà Hiragana dễ nhớ hơn Kanji, đặc biệt với người học không phải người Nhật bản địa.
- Sawachika Eri (dành cho những ai không xem manga): cha là thương gia người Anh, mẹ là người Nhật, sinh ra ở Nhật nhưng lớn lên ở Anh, khi lên trung học mới trở về Nhật để học. Vì vậy, kiến thức của cô về phong tục tập quán và truyền thống của Nhật khá hạn chế. Cô cũng cảm thấy khó đọc kanji vì nó phức tạp, khó nhớ như đã nêu ở trên. Ngoài ra, cô còn thường xuyên dùng sai các thành ngữ của Nhật.
- Một số ghi chú vốn đã xuất hiện từ phần trước:
- WAS Burger (xuất hiện từ OVA School Rumble Ichi Gakki Hoshuu): nơi làm thêm của Ichijou và Lala là parody của hệ thống cửa hàng thức ăn nhanh lớn thứ hai ở Nhật, MOS Burger (sau McDonald's, tất nhiên). Thú vị là logo của MOS Burger cũng là chữ M cách điệu (như McDonald's), và nếu lật ngược lại thì nó giống với logo của của WAS Burger.
- Genroku Jieitai (元禄自衛隊, Tự vệ đội thời Genroku) (xuất hiện ở tập 9 School Rumble): là parody của tác phẩm văn học Sengoku Jieitai (戦国自衛隊) của Hanmura Ryou. Sengoku Jiei-tai kể về câu chuyện của một đội Jieitai (Japan Self-Defense Forces = JSDF) vô tình di chuyển xuyên thời gian về thời đại Sengoku. Cả Sengoku (戦国 Chiến quốc, 1400-1600) và Genroku (元禄 Nguyên lộc, 1699-1704) đều là những thời đại có thật trong lịch sử Nhật Bản (và đều chưa có JSDF, JSDF được thành lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2).
- Approvo (cũng từng xuất hiện trong School Rumble Ichi Gakki Hoshuu): dạng hiện tại đơn ngôi thứ nhất của Approvare. Approvare, tiếng Ý nghĩa là "đồng ý, chấp nhận, thỏa thuận" (tương đương với approve trong tiếng Anh).
» Tập 08 «
Tập này không có gì nhiều cần chú thích, ngoài mấy thuật ngữ bóng rổ. Có lẽ các bạn nên tự tìm hiểu.
- Có một chi tiết phụ là Asou và Suga khá giống với hai nhân vật thuộc đội bóng rổ của trường Shohoku trong Slam Dunk. Asou giống Rukawa Kaede, còn Suga giống Sakuragi Hanamichi. Ngoài ra, nhân vật Takenori Akagi trong Slam Dunk cũng có biệt danh là "Gori".
- Tôn Vũ (孫武, Sun Wu), tên chữ là Trưởng Khanh, thường được biết đến là Tôn Tử (孫子, Sun Tzu), là một nhà binh pháp lỗi lạc của Trung Hoa thời Xuân Thu (春秋時代). Ông sinh ra ở nước Tề, vào khoảng năm 544 TCN, nhưng hoạt động chủ yếu ở nước Ngô. Ông đặc biệt nổi tiếng với tài cầm binh, được Ngô vương Hạp Lư rất trọng dụng. Quyển sách Tôn Tử binh pháp của ông đã trở thành thước đo mẫu mực của binh học, được xem là Tuyệt tác binh thư hàng đầu của thế giới cổ đại. Đáng chú ý là sau khi du nhập vào Nhật Bản vào khoảng thế kỷ VI, Binh pháp Tôn Tử đã tạo nên sức ảnh hưởng lớn và trở thành lý thuyết chỉ đạo quân sự chủ yếu của Nhật Bản.
- Câu cuối chương III, Binh pháp Tôn Tử như sau:
故曰:知彼知己,百戰不殆;不知彼而知己,一勝一負;不知彼,不知己,每戰必敗
Hán Việt: "Cố viết: Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại"
Nghĩa là: "Người xưa nói: Biết người biết ta, trăm trận không nguy; không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại."
Câu này đã trở thành thành ngữ của Trung Quốc và Việt Nam, nhưng nội dung ngắn gọn hơn:
知彼知己, 百戰百勝
Hán Việt: "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng"
Nghĩa: "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng"
Hán Việt: "Cố viết: Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại"
Nghĩa là: "Người xưa nói: Biết người biết ta, trăm trận không nguy; không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại."
Câu này đã trở thành thành ngữ của Trung Quốc và Việt Nam, nhưng nội dung ngắn gọn hơn:
知彼知己, 百戰百勝
Hán Việt: "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng"
Nghĩa: "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng"
» Tập 09 «
Như tập 8, không có gì nhiều ngoài mấy thuật ngữ bóng rổ.
- Swing là thuật ngữ trong môn cricket (trong bản dịch tôi đã nhầm lẫn với bóng chày) chứ không phải bóng rổ.
- Đoạn Tae-sensei cầm cây quyền trượng là nháy theo nhân vật Athena trong bộ manga/anime kinh điển Saint Seiya.
- Imadori bảo rằng nhờ đôi Jordan cậu ta có thể nhảy như bay. Có lẽ bị lậm quảng cáo của Air Jordan!
» Tập 10 «
- Tonde Asuteka (とんでアステカ), dịch nôm na là Azteca bay. Azteca có lẽ chỉ bộ tộc Aztec ở Mexico. Đó là tộc người bản địa, tập trung sinh sống ở Trung Mexico. Nên nhớ, Lala cũng là người Mexico.
- Hijiki hay hiziki (ヒジキ, 鹿尾菜 hay 羊栖菜) là một loại tảo nâu, mọc nhiều trên các tảng đá nằm ở bờ biển của Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc. Tên của nó được ghép từ các chữ kanji, có nghĩa là rau đuôi-huơu (hijiki: lộc vĩ thái) và rau lông-cừu (hiziki: dương thê thái). Hijiki chứa nhiều khoáng chất, và là thực phẩm ăn kiêng truyền thống ở Nhật trong nhiều thế kỷ.
- Nattou (なっとう hoặc 納豆): là sản phẩm của đậu nành lên men, chứa nhiều protein và vi khuẩn có lợi, nên rất bổ dưỡng. Note của tập 14 sẽ nói rõ thêm.
- Mahogany thường được dùng chỉ những loài cây gỗ cứng, ván có màu thẫm, thường khá cứng chắc và quý.
- Tên của đoạn phim giả là 大貧民放浪記 (Daihinmin hourou ki), Hán Việt: Đại bần dân phóng lãng ký, tạm dịch: Câu chuyện của những Daihinmin (Kẻ cùng khổ) lêu lõng. Daihinmin, đọc trong âm Hán Việt là Đại bần dân, nghĩa nôm na là Kẻ nghèo khổ cùng cực. Tôi không rõ nguyên tắc chơi bài trong đoạn phim đó, tuy nhiên theo Note của Wannabe Fansubs, người nào hết bài trước sẽ thắng và trở thành Daifugou (大富豪 Đại phú hào), còn người thua trở thành Daihinmin (大貧民 Đại bần dân).
- Nếu bạn tinh mắt (hay phải nói "cực kỳ tinh mắt"), bạn sẽ phát hiện Joker trên bộ bài trong tập này là hình ảnh CG của Akira.
- Penne mà Tenma nói đến là một loại pasta (mỳ Ý) có dạng trụ rỗng (click trên link dẫn đến trang Wikipedia để xem hình). Còn món nước sốt có tên là Arrabiata, mà Tenma gọi nhầm thành Arabian Night (Đêm Ả-rập)! Người Nhật thường không phát âm "s" kết thúc của các danh từ số nhiều tiếng Anh khi "chêm" vào trong câu tiếng Nhật, nên có thể hiểu là Arabian Nights, tên tiếng Anh phổ biến của Nghìn Lẻ Một Đêm.
- Yakisoba (焼きそば) hiểu nôm na là "mỳ xào", tuy thường thấy ở các lễ hội của Nhật nhưng có xuất xứ từ Trung Quốc. Mặc dù trong tên gọi có chữ "soba" nhưng yakisoba thường được làm bằng bột lúa mỳ (thay vì bột kiều mạch).
- Harima không biết Penne có nghĩa là gì, nên đem so sánh với cây G-Pen của cậu ta. Quả đúng là cây G-Pen cứng hơn Penne thật! G-Pen là cây bút mà cậu ta dùng để vẽ manga, nhận được từ Gotou Genkai, thuyền trưởng của Kikokumaru.
- Cảnh Karasuma "hiện hồn" giúp Tenma làm gốm dễ liên tưởng đến một cảnh trong bộ phim Ghost.
- Cái biển ở cuộc thi ăn cay là マグマカレー大食い大会 (Maguma Karei Dai gui Taikai): Cuộc Thi Ăn Nhanh Cà-ri Mắc-ma (Magma Curry). Hẳn các bạn biết Magma là gì? Magma là dung nham núi lửa đang hoạt động (cái biểu tượng cũng đã nói lên rồi).
- Imadori Kyousuke (今鳥 恭介) và Hair Salon "Now Bird". Từ Họ của cậu ta: Ima (今 kim, nghĩa là hiện tại) = NOW, Dori (鳥 điểu, nghĩa là chim) = BIRD. Giờ thì các bạn rõ rồi chứ!
» Tập 11 «
- Gói thịt mà Kenji đưa cho Tenma có chữ: 特上 (toku jou) nghĩa là hàng đặc biệt (特, đặc) chất lượng cao (上, thượng).
- Ớt Habanero: có xuất xứ từ Cuba (đặt tên theo Habana), là loại ớt khá cay, xếp vào khoảng 100 000 - 350 000 trên thang Scoville (thang điểm chuyên dùng do độ cay). Thường bị nhầm là loài ớt cay nhất thế giới, mặc dù vinh dự đó thuộc về loài ớt Naga Jolokia.
- Udon (饂飩, thường viết là うどん): là một dạng mỳ sợi làm từ bột lúa mỳ (trông giống như sợi bún nhưng to hơn), là một thức ăn khá phổ biến ở Nhật (tương tự soba).
» Tập 12 «
Không có.
» Tập 13 «
- Hyakumonogatari: "Một trăm câu truyện ma" là một trò chơi trong nhà truyền thống của Nhật, phổ biến vào thời Edo. Nguyên tắc như sau: Khi đêm xuống, nhiều người tụ tập quanh một căn phòng và thắp một trăm ngọn nến, rồi từng người sẽ kể một kaidan (câu truyện ma), xong một câu truyện sẽ thổi một ngọn nến. Cứ thế căn phòng ngày càng tối hơn. Người ta tin rằng khi ngọn nến cuối cùng tắt đi sẽ... triệu hồi ma thật!
- Ryuunen-sensei: lại là một trò chơi chữ khác của học trò, giống như trường hợp Goriyama-sensei (xem lại note tập 5). Tên thật của ông ta là Ryuu Nenji (笠 稔持) có cách phát âm giống như Ryuunen (留年, lưu niên) có nghĩa là lưu ban (học lại lớp).
- Khi Harima nói rằng không nên quên vành tai nữa, chỗ này nhắc tới tích "Hoichi không tai". (Tôi lười dịch ra, bạn tự xem bài viết ở Wikipedia).
- Câu hỏi thứ nhất dành cho Tenma: Mạc phủ (幕府, bakufu) Kamakura được thiết lập vào năm nào?
Có câu thuộc lòng (cho dễ nhớ) như sau: "Ii kuni tsukurou, Kamakura Bakufu" nghĩa là "Hãy xây dựng đất nước hưng thịnh, Mạc phủ Kamakura". Trong câu này, chỗ đáng chú ý là "ii kuni" (đất nước hưng thịnh), nếu áp dụng cách đọc số sẽ là i=1, i=1, ku=9, ni=2. Do đó là 1192. Tuy nhiên với tâm hồn ăn uống của mình, Tenma đã nhớ nhầm thành "Ii niku tsukurou, Kamakura Bakufu" (nghĩa là "Hãy làm nên thịt ngon, Mạc phủ Kamakura" ) với "ii niku" có nghĩa là thịt ngon. Áp dụng cách đọc số như trên ta được: 1129. (Xem cách phát âm số đếm của Nhật Bản).
- Câu hỏi thứ hai dành cho Tenma: Ba điểm trong đòn bẩy cơ học bao gồm điểm nào, điểm nào và điểm nào?
Câu trả lời đúng là Điểm tựa, Điểm lực và Điểm tác dụng (支点 力点 作用点). Tuy nhiên vì Tenma nhầm Shiten (支点, chi điểm) nghĩa là "Điểm tựa" với Shiten (支店, chi điếm) nghĩa là "Văn phòng chi nhánh", nên nhớ nhầm cả hai điểm còn lại.
- Những câu hỏi trong bài test Lịch sử Nhật Bản (dành cho ai có hứng thú với Lịch sử Nhật Bản):- Ai là người chiến thắng trong Năm trận chiến ở Kawanakajima (thời đại Sengoku)? Đáp án: Cuối cùng Takeda Shingen và Uesugi Kenshin đã thủ hòa.
- Ai là kẻ đã bán đứng Oda Nobunaga trong Biến cố ở Honnouji? Đáp án: Kẻ phản trắc chính là Akechi Mitsuhide.
- Năm 1603, ai là người thiết lập Mạc phủ Tokugawa và trở thành Shogun (将軍, tướng quân) đầu tiên của nó? Đáp án: Bởi một người có họ là Tokugawa, tên Ieyasu.
- Thiếu tướng hải quân người Mỹ nào đã có mặt ở Uraga và buộc Mạc phủ bỏ việc bế quan tỏa cảng? Đáp án: Thiếu tướng Matthew Calbraith Perry.
- Còn một câu để sau.
- Cuốn sách tiểu thuyết tình cảm mà Mikoto cầm nhắc đến Ima Ai ni Yukimasu.
- Trò racing mà Asou chơi nhắc đến Capeta, một anime thể loại đua xe do Studio Comet thực hiện.
» Tập 14 «
- Tên quán cà-phê quen thuộc này (nơi làm thêm của Yakumo) theo đúng katakana là El Cado (エルカド, romaji: Erukado), tuy nhiên đa số bản dịch khác và cách phát âm của các nhân vật lại là Mercado (メルカード, romaji: Merukado). Theo tôi, có thể xuất phát từ việc El Cado là viết tắt của El Mercado (tiếng Tây Ban Nha, tương đương The Market trong tiếng Anh), El trong tiếng TBN là mạo từ như The. Ngoài ra, El Mercado còn là tên chuỗi nhà hàng ở Austin, bang Texas, Hoa Kỳ.
- Nattou: như đã nói trong phần chú thích tập 10, Nattou rất bổ dưỡng. Tuy nhiên khuyết điểm của nó là khó ăn (nếu không quen) và mùi thì rất kinh khủng! Chưa kể thứ mùi này sẽ đeo bám dai dẳng theo người ăn cho dù súc miệng kỹ thế nào.
- Pocky game: hẳn các bạn đã biết, không nhắc lại nữa.
- Bảng Amidakuji (阿弥陀籤): nguyên tắc khá dông dài, khi nào rỗi tôi sẽ viết. Bạn có thể tham khảo từ Wikipedia.
- Torimaru: Lý do Tenma nhận ra bó hoa Harima đưa cho không phải của Karasuma là vì trên tấm thiệp, ở phần ghi tên người gửi Harima đã ghi nhầm thành Torimaru (鳥丸) có lẽ vì trước đó từng đọc nhầm (trong phần một). Chữ Karasuma phải viết là 烏丸. Trừ khi phóng lớn và nhìn thật kỹ, nhiều khả năng bạn sẽ không phát hiện sự khác biệt (tôi nói ở trang này, tất nhiên trên tấm thiệp thì rõ hơn). Chữ Karasu (烏) có nghĩa là Quạ trong khi Tori (鳥) nghĩa là Gà. Chúng hơn kém nhau 1 nét.
- Điển tích "Tặng muối cho kẻ thù": Còn nhớ Năm trận chiến ở Kawanakajima ở tập trước? Điển tích này liên quan đến sự kiện đó. Uesugi Kenshi là daimyou của tỉnh Echigo, một trong những thủ lĩnh quyền lực nhất thời đại Sengoku, đã giao chiến với Takeda Shingen, daimyou của tỉnh Kai ở địa giới Kawanakajima nổi tiếng với cả thảy 5 trận (mặt dù chỉ có 4 trận đáng tính) với kết quả hòa. Có giai thoại nói rằng, có lần xảy ra biến cố là các daimyou khác cấm vận muối với tỉnh Kai gây khó khăn cho Shingen (thời bấy giờ muối khá quý, có tác dụng làm lương khô). Biết được chuyện này, Kenshi đã bí mật tặng muối cho Shingen mặc dù hai bên đang có hiềm khích. Tuy rằng có thể cắt nguồn cung cho Shingen, Kenshi đã không làm vậy. Ông cho rằng hành động đó là hèn hạ, mà theo ông: "Chiến tranh phải được chiến thắng bằng gươm giáo, chứ không phải bằng gạo và muối".
- Koushien và Koushien: Trong lần đầu nhắc đến, Koushien có nghĩa là Sân vận động Hanshin Koushien (như ảnh nền trong anime). Nhưng Koushien còn có nghĩa là các tournament thuộc giải Vô địch Bóng chày Quốc gia dành cho Học sinh Cao trung và giải Giao hữu Bóng chày Quốc gia dành cho Học sinh Cao trung được thi đấu trong Sân vận động Hanshin Koushien.
- "Tạp chí Shounen" mà Harima nói có lẽ là chơi chữ của Young Magazine, một tạp chí manga do Koudansha phát hành.
- Ai Ai Gasa (相合傘) nghĩa đen là che chung ô. Tuy nhiên vì từ 相 (romaji: ai; nghĩa: cùng, chung) đồng âm với 愛 (romaji: ai; nghĩa: yêu) nên có thể hiểu thành "Cái Ô Tình Yêu". Vì lẽ đó, che chung ô được xem hành động biểu hiện tình cảm của các cặp đôi. Giới trẻ Nhật thường vẽ hình cái ô với trái tim bên trên rồi viết tên mình và người yêu vào bên dưới ô.
- Cảnh manga mà Harima nhớ đến chính là trong Love Hina của Akamatsu Ken. Tình cờ, Akamatsu-sensei cũng là bạn của Kobayashi Jin. Ngoài ra, ở phiên bản anime, nữ chính Narusegawa Naru cũng do Horie Yui (seiyuu của Eri trong School Rumble) lồng tiếng. (Đây là một trong các nhân vật anime nữ mà tôi ghét nhất, nói chung các nữ nhân vật trong series chỉ thích mỗi Shinobu).
- Sao lại có ký tự Hy Lạp ở đây? Beta mà Harima nói tức là Beta Flash, thường nói tắt là Beta-fura hay gọn hơn là Beta. Beta Flash là một kỹ thuật trong xử lý manga, dùng để nhấn mạnh một câu thoại bằng cách dùng kiểu khung khác với kiểu bong bóng dùng cho câu thoại thông thường (nếu bạn có đọc manga nhiều hẳn sẽ dễ hình dung ra).
- Shinshun Shanshon Sho: Đáng lẽ Lala phải đọc là "Shinshun Shanshon Shu" (新春シャンソンショー). Câu đầy đủ của chuỗi "gãy lưỡi" này là "Shinjin kashu shinshun shanson shu" nghĩa là "Ca sỹ mới, show chanson mừng Năm mới".
» Tập 15 «
- 4-koma (4コマ漫画, yonkoma): Đây là kiểu manga mà mỗi trang chỉ có 4 khung chữ nhật có kích thước tương đương nằm ngang xếp theo chiều dọc của trang. Thường được dùng trong omake của các bộ manga, nhưng cũng có những manga dùng toàn bộ kiểu này (K-ON!, Lucky Star, Azumanga Daioh, Hidamari Sketch là những ví dụ điển hình, xem thêm). (Có một series 4Koma khá thú vị, các bạn có thể xem ở đây)
- Bìa cuốn tạp chí của Dankousha ở tập này có hình hoạt hình của chị Tokito Ami (blog, unofficial english translation) (bởi vì chị ấy là ca sỹ đồng thời là một gravure idol, bạn có thể tìm thấy nhiều hình ảnh của chị trên mạng qua các search engine, ví dụ Google Images). Chị này chính là ca sỹ trình bày bài OP và ED1. Bìa còn lại là một cảnh phỏng theo Initial D.
- Cảnh Harima hoảng hốt khi Yakumo hỏi Tổng Biên tập Gouto là phỏng theo bức tranh nổi tiếng The Scream (tên gốc là Skrik) của họa sỹ người Na Uy, Edvard Munch.
- Gấu trúc đỏ là loài động vật có vú loại nhỏ, sống chủ yếu ở phía đông dãy Himalaya và vùng tây nam Trung Quốc. Kích thước trung bình của con trưởng thành chỉ tính đầu và thân thường vào khoảng 50-60 cm. Chúng có họ hàng gần với Raccoon (gấu trúc Mỹ) hơn là Giant Panda (Đại hùng miêu) mà các bạn thường biết. Chúng có khá nhiều tên gọi địa phương, người Trung Quốc thường gọi chúng là 小熊貓 (tiểu hùng miêu) hoặc là 红熊猫/紅熊貓 (hồng hùng miêu), ở Nhật chúng thường được gọi là レッサーパンダ (ressaa panda, phát âm của từ tiếng Anh lesser panda), trong tiếng Anh nó còn được gọi là firefox (xuất phát từ tên gọi "hỏa hồ" trong tiếng Trung Quốc)... Đa số cách gọi đều có nghĩa là gấu trúc nhỏ hoặc gấu trúc đỏ. Kuuta trong tập này là liên hệ đến chú gấu trúc đỏ có thể đứng trên hai chân tên Fuuta ở Vườn bách thú Chiba. (Sư phụ Shifu trong Kung Fu Panda cũng là gấu trúc đỏ đấy!)
- Này, bạn đã xem Nausicaä ở thung lũng Gió chưa? Nếu chưa, bạn nên xem đi (một tuyệt phẩm khác của Studio Ghibli). Nếu xem rồi, hẳn bạn sẽ nhận ra một parody của nó trong tập này.
- Đoạn Harima đi lên cầu thang có nhiều chi tiết giống với trong phim Nosferatu: Phantom der Nacht, một số lại cho rằng giống trong Dracula (1992) hơn. Khi Harima phát hiện mình đi nhầm phòng, cảnh sau đó khá giống trong The Grudge.
- Chương trình thời sự trong tập này có tên là Wide Noon (ウイドノーン), parody của "Wide News" (ウイドニュース) thường dùng làm tên gọi chương trình thời sự của nhiều đài truyền hình Nhật Bản.
» Tập 16 «
- Sasakura Youko khi trước học cùng trường Đại học nhưng sau khóa với Okasabe Itoko. Trong thời gian là sinh viên, hai người đã quen biết nhau và hình như phát triển một mối quan hệ bí mật.
- Nhà tắm konyoku (混浴) là nhà tắm (thường là nhà tắm công cộng hoặc onsen) cho phép nam nữ tắm chung.
- Omiai (お見合い) có thể hiểu như lễ xem mắt, hay lễ đính hôn dành cho hai người trẻ không có mối quan hệ ràng buộc (tình yêu) theo sự sắp đặt của người lớn. Gọi là hôn nhân sắp đặt thì không hẳn là đúng cho lắm, mặc dù nó ảnh hưởng từ tư tưởng phong kiến truyền thống, trong quá khứ đó không hẳn là điều xấu nhưng ở thế giới hiện đại với quan niệm tự do yêu đương thì không còn phù hợp nữa.
» Tập 17 «
- Rubik's Cube: Khối Lập phương do kiến trúc sư đồng thời là giáo sư môn kiến trúc người Hungary, Ernő Rupik sáng chế, khỏi nói ai cũng biết nó là gì rồi.
- Tập này có sự xuất hiện của nghệ sỹ hài Choushuu Koriki (đoạn múa para para).
» Tập 18 «
- Emperor Penguin (Chim Cánh cụt Hoàng đế, có tên khoa học Aptenodytes forsteri) là loài chim cánh cụt thuộc chi Aptenodytes (chi này gồm Chim Cánh cụt Vua và Chim Cánh cụt Hoàng đế). Đây là loài chim cánh cụt có chiều cao và trọng lượng lớn nhất trong bộ Cánh cụt (Sphenisciformes). Trong tự nhiên, như nhiều loài Cánh cụt khác, chúng tồn tại duy nhất ở Nam Cực. Nếu bạn từng xem Happy Feet, bộ phim giành giải Oscar lần thứ 78 cho hạng mục Phim Hoạt hình hay nhất, thì đa số nhân vật trong phim đó là chim Cánh cụt Hoàng đế.
» Tập 19 «
- Đoạn mở đầu của tập này nháy theo cảnh trong phim The Perfect Storm.
- Oyaji (親父, Hán-Việt: thân phụ) thường dùng để gọi những người đáng kính, với ý nghĩa vai trò ngang hàng với cha.
- Aoihibi (vết rạn màu xanh) là đặc trưng của một dòng sản phẩm đồ gốm Nhật gọi là "Oobori Souma-yaki", có xuất xứ từ trấn Namie, quận Fukushima, TP Souma.
- Cảnh một lượng lớn cá đông lạnh phóng về phía Harima như tên lửa gọi là "Itano Circus", thường thấy trong các bộ anime thuộc dòng anime Macross, đặt tên theo đạo diễn, nhà sản xuất anime: Itano Ichirou.
» Tập 20 «
- Cyborg là dạng nửa người nửa máy (một phần cơ thể được thay thế bằng máy), còn Cyberterror là khủng bố không gian ảo.
- Phục trang và khung cảnh ở đoạn Cyborg-Cyberterror giống với trong Taiho Shichauzo. Cảnh gần cuối hơi giống Tron, cảnh hàng loạt màn hình màu đỏ nhấp nháy giống như trong Neon Genesis Evangelion, và cảnh một loạt nhân viên giống nhau giống trong Ghost in the Shell: SAC. Suga Robo giống như một Gundam.
» Tập 21 «
Tập này khá nhiều parody.
- Parody chính là các anime đề tài mahou shoujo mà chủ yếu là Sailor Moon: Iori trở thành Luna, còn Mask Kamen là parody của Tuxedo Kamen (một chi tiết thú vị khác là Kamen (仮面) cũng đồng nghĩa với Mask).
- Cây gậy mà Mai cầm lẫn bộ trang phục dựa theo trong Card Captor Sakura.
- Đoạn hai đứa ăn hiếp một đứa là parody của Doraemon.
- Tenma mặc trang phục giống Wonder Woman còn Yakumo hóa thân thành Tinker Bell.
- Cảnh Tenma biến hình giống như trong Cutie Honey.
- Ở Nhật, khi ăn xong người ta thường nói "Gochigousama" có nghĩa kiểu như "cảm ơn bữa ăn". Với các võ sỹ Sumo, họ nói "Gottsuandesu".
- Các nhân vật trong đội bóng rổ thật ra nháy theo các nhân vật trong Mobile Fighter G Gundam và trong đoạn đó cũng có những chi tiết là parody của anime này.
» Tập 22 «
- Đoạn prologue của tập này là parody của Initial D. Đây không phải là lần đầu tiên series School Rumble sử dụng parody của Initial D.
- Thật ra câu "Kotoshi mo yoroshiku" đầy đủ là "Kotoshi mo yoroshiku onegai shimasu", có nghĩa như "Năm mới mong được bạn tiếp tục chiếu cố/chỉ bảo cho". Tuy nhiên vì câu này chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, nên tôi thay bằng một câu chúc thường dùng trong tiếng Việt cho gọn và dễ hiểu.
- 愛羅武勇 có phát âm là Ai ra bu yuu, gần giống với phát âm của "I love you" trong tiếng Nhật, bắt nguồn từ bộ phim nổi tiếng của Hồng Kông "Hoàng Phi Hồng - phần 3: Sư Vương Tranh Bá" (Once Upon a Time in China III). Khi được dì "Thập Tam" dạy tiếng Anh, đến câu "I love you", sư phụ Hoàng đã phát âm trại thành 愛老虎油 (Ài lǎohǔ yóu).
- Câu "hơn bình thường 3 lần" là nhái theo câu nói của nhân vật nổi tiếng Char Aznable trong series Gundam.
- Bài thơ được sử dụng trong tập này có tên Yura no o to do nhà thơ Sone no Yoshitada, sống vào khoảng thế kỷ X sáng tác, là bài thơ thứ 46 trong danh sách Một trăm bài thơ nổi tiếng của một trăm nhà thơ (Hyakunin Isshu).
» Tập 23 «
Nhân nói qua về tên các con vật xuất hiện trong series: con ếch tên là Alexander (nhân vật nổi tiếng nhất có tên Alexander là Alexander Đại đế), con heo tên là Napoleon (nhắc đến Napoleon hẳn bạn nhớ ngay đến Napoleon Bonaparte), còn con huơu cao cổ có tên Pyotr (trùng tên với thiên tài âm nhạc người Nga Pyotr Ilyich Tchaikovsky), riêng Iori kết quả mà Google trả về nhiều nhất là Yagami Iori, một nhân vật quen thuộc trong dòng game đối kháng The King of Fighers, tuy nhiên tôi không chắc rằng Iori trong series được đặt tên theo nhân vật này.
» Tập 24 «
- Tên của tập này bằng romaji là Minami no Niji no 2-C! Fushigi na Shima no Yaakumo! Nanatsu no Umi no...! nháy theo tên 3 bộ anime thuộc series Thế giới danh tác kịch trường (Sekai Meisaku Gekijou) do Nippon Animation sản xuất là 南の虹のルーシー (Minami no Niji no Lucy), 家族ロビンソン漂流記ふしぎな島のフローネ (Kazoku Robinson Hyouryuuki: Fushigi na Shima no Flone), 七つの海のティコ (Nanatsu no Umi no Tico).
- Đoạn Hanai chia tay người ở thôn trang Yaagami, nếu bạn từng xem qua Lupin III: The Castle of Cagliostro sẽ nhận ra parody của nó.
» Tập 25 «
Không có.
» Tập 26 «
- Trong tập này, có thêm một cảnh parody của Lupin III: The Castle of Cagliostro.
- Zico: là biệt danh của HLV người Brazil của Đội tuyển Bóng đá Quốc gia Nhật Bản từ năm 2002 đến năm 2006. Ông đã dẫn dắt Đội tuyển Nhật tham gia kỳ FIFA World Cup năm 2006. Còn từ 事故 có phát âm là jiko, có nghĩa là tai nạn.